1. Khát vọng Nam Bộ và cội nguồn ý tưởng định danh thành phố mang tên Bác
Ý tưởng đổi tên thành phố Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh là một tiến trình lịch sử lâu dài, khởi nguồn từ khát vọng thống nhất và tình cảm đặc biệt của đồng bào Nam Bộ đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ý tưởng này không phải là một quyết định hành chính mang tính nhất thời sau ngày chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, mà đã được nhen nhóm và hình thành từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Vào ngày 25 tháng 8 năm 1946, nhân dịp kỷ niệm một năm chính quyền cách mạng ra đời và một năm ngày Nam Bộ khởi nghĩa, Phòng Nam Bộ Trung ương tại Hà Nội đã tổ chức một buổi gặp mặt thân mật giữa những người Việt Nam miền Nam đang sinh sống, học tập và công tác tại Thủ đô. Trong buổi họp mặt này, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp đã trình bày báo cáo tổng kết tình hình chiến đấu gian khổ nhưng oanh liệt của quân dân Nam Bộ trong suốt một năm qua.
Để biểu thị tấm lòng kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh - người lãnh đạo tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc - và khẳng định ý chí sắt son của người dân miền Nam quyết tâm trở về với Tổ quốc, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp đã đề xuất cải tên thành phố Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh.
Đề xuất này lập tức nhận được sự đồng thuận tuyệt đối của toàn thể đại biểu tham dự hội nghị. Một bản Quyết nghị lịch sử soạn thảo ngày 26 tháng 8 năm 1946 đã được gửi lên Quốc hội và Chính phủ Trung ương. Văn bản này mang chữ ký của 57 nhân sĩ, trí thức và đại biểu Nam Bộ, thể hiện một nguyện vọng chung đầy tính biểu tượng. Đứng đầu danh sách ký tên trong bản Quyết nghị là những trí thức tiêu biểu của đất nước:
Bác sĩ, Nhà giáo Nhân dân Trần Hữu Nghiệp (1911 - 2006): Sinh ngày 15 tháng 3 năm 1911 tại xã Tân Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Ông tốt nghiệp bác sĩ y khoa tại Paris (Pháp) năm 1937 và là một trong những bác sĩ người Việt đầu tiên tốt nghiệp tại đây. Sau khi về nước, ông mở phòng khám tư tại Mỹ Tho nhưng đã gác lại cuộc sống giàu sang để đi theo cách mạng ngay từ ngày Nam Bộ kháng chiến 23 tháng 9 năm 1945. Ông từng đảm nhiệm các chức vụ Phó Giám đốc Sở Y tế Quân dân Nam Bộ, Hiệu trưởng Trường Y sĩ Nam Bộ, và Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cán bộ Y tế Trung ương sau khi tập kết ra Bắc năm 1955. Ông được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 1988, danh hiệu Anh hùng Lao động, và là tác giả của nhiều cuốn sách huấn luyện y tế cùng hồi ký nổi tiếng dưới bút danh Hằng Ngôn. Con đường mang tên ông đã được chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh đặt tại khu Y tế kỹ thuật cao huyện Bình Chánh vào năm 2021 để vinh danh những đóng góp to lớn của ông.
Luật sư Trần Công Tường (1915 - 1990): Sinh tại Gò Cong, tỉnh Tiền Giang, ông là một luật sư tài năng đã tham gia cách mạng từ sớm. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Tư pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông là thành viên chủ chốt trong phái đoàn Chính phủ tham dự các hội nghị quốc tế quan trọng như Hội nghị Genève năm 1954, Hội nghị Genève về Lào (1961 - 1962), và Hội nghị Paris về Việt Nam (1968 - 1973). Ông từng giữ chức Phó Chủ tịch Hội Luật gia Dân chủ Quốc tế từ năm 1960 đến năm 1968 và qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1990.
Giáo sư, Bác sĩ, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Tấn Gi Trọng (1913 - 2006): Sinh tại xã Bình Trưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Ông tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa tại Viện Đại học Đông Dương năm 1941 và từng là Chủ nhiệm Báo Tin Mới tại Hà Nội. Ông được bổ nhiệm làm Phó Cục trưởng Cục Quân y vào tháng 8 năm 1945 và là Ủy viên Thường trực Quốc hội khóa I. Ông từng giữ các chức vụ Tổng Giám đốc Nha Thông tin - Tuyên truyền, Chánh Văn phòng Ban Thường trực Quốc hội, và Chủ nhiệm Bộ môn Sinh lý học tại Trường Đại học Y Hà Nội. Ông là Đại biểu Quốc hội liên tục qua 7 khóa và qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12 năm 2006.
Bác Sĩ Trần Hữu Nghiệp
2. Sự xuất hiện của danh xưng "Thành phố Hồ Chí Minh" trước năm 1976
Trong suốt 30 năm chiến tranh chia cắt (1946 - 1976), cái tên "Thành phố Hồ Chí Minh" đã được sử dụng rộng rãi và có sức sống mạnh mẽ trong lòng nhân dân. Phân tích lịch sử báo chí và văn kiện cách mạng cho thấy danh xưng này xuất hiện nhiều lần trên các phương tiện truyền thông chính thống, ấn phẩm xuất bản trong và ngoài nước, cũng như trong các tác phẩm văn học nghệ thuật trước khi Quốc hội khóa VI đưa ra quyết định chính thức.
Báo chí và Văn chương
Sử dụng danh xưng trước 2/7/1976
27/08/1946
Báo Cứu Quốc (Số 329)
Tháng 08/1954
Bài thơ "Ta đi tới" của nhà thơ Tố Hữu
Tiền Giang, Hậu Giang
Ai vô thành phố
Hồ Chí Minh
Rực rỡ tên vàng.
Tháng 03/1975
Ca khúc "Tiếng hát từ thành phố mang tên Người" Hoàn thành phần nhạc bởi Cao Việt Bách và phần thơ bởi Đăng Trung.
Trong mỗi trái tim trong mỗi ước mơ
Trong mỗi cuộc đời ta luôn có Bác
Lời Bác thiết tha dìu dắt chúng ta
Sáng mãi tên Người thành phố Hồ Chí Minh
12/05/1975
Tạp chí Time (Mỹ)
25/06/1975
Trang lưu chiểu của Nhà xuất bản Thanh Niên Giải Phóng
18/04/1976
Báo Nhân Dân
21/05/1976
Báo Cứu Quốc
18/06/1976
Báo Cứu Quốc
Bên cạnh các bản tin báo chí quốc gia, các ca khúc cách mạng như "Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh" của nhạc sĩ Xuân Hồng sáng tác năm 1975 cũng đã ngân vang danh xưng thiêng liêng này trước cả khi có quyết định pháp lý của Nhà nước thống nhất. Điều này chứng minh danh xưng này đã đi vào đời sống văn hóa, nghệ thuật và tư tưởng của nhân dân như một chân lý hiển nhiên.
3. Diễn biến kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI xung quanh quyết định đổi tên thành phố
Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa VI nước Cộng hòa xã hội nghĩa Việt Nam diễn ra từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 năm 1976 tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội. Đây là kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất, mang sứ mệnh hoàn thành tiến trình thống nhất đất nước về mặt Nhà nước.
Tiến trình biểu quyết đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định được chuẩn bị kỹ lưỡng và diễn ra trong không khí trang nghiêm, xúc động qua các bước cụ thể:
Thảo luận tại phiên trù bị: Theo hồi ức của đại biểu Phan Minh Tánh, trước khi bước vào kỳ họp chính thức, Quốc hội đã tổ chức một phiên trù bị bàn thảo sâu sắc về việc đặt tên mới cho thành phố. Ba đại biểu chủ chốt đã cùng nhau bàn bạc, trao đổi ý kiến và thống nhất phương án đổi tên từ Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh để trình lên toàn thể Quốc hội.
Hoạt động viếng Lăng Bác trước giờ họp chính thức: Sáng ngày 2 tháng 7 năm 1976, trước khi tiến hành phiên họp quyết định, toàn thể đại biểu Quốc hội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại biểu Nguyễn Thị Hoài Thu kể lại rằng đó là một khoảnh khắc vô cùng thiêng liêng đối với các đại biểu miền Nam; nhiều người đã khóc nghẹn ngào trước anh linh của Người sau những năm dài chiến đấu gian khổ.
Trình bày Tờ trình và Điều hành biểu quyết: Tại phiên họp chính thức, Đoàn Chủ tịch kỳ họp đã đọc tờ trình đề xuất đổi tên thành phố. Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh điều hành phiên biểu quyết và đặt câu hỏi hỏi toàn thể nghị trường: "Có ai không đồng ý với tờ trình hay có ý kiến khác hay không?". Cả hội trường Ba Đình chìm vào không khí im lặng tuyệt đối, không có bất kỳ ý kiến phản đối hay dè dặt nào.
Kết quả biểu quyết: Ngay sau đó, Chủ tịch Trường Chinh tuyên bố Quốc hội thống nhất thông qua đề án. Toàn bộ 492 đại biểu Quốc hội khóa VI đã đồng loạt giơ tay tán thành nghị quyết. Những tràng pháo tay vang dội kéo dài vang lên khắp hội trường, đánh dấu thời khắc Sài Gòn - Gia Định chính thức mang tên Thành phố Hồ Chí Minh.
Công bố nghị quyết: Sau khi thông qua, quyết định lịch sử này đã được đăng tải trang trọng trên các trang nhất báo chí cả nước như báo Nhân Dân, báo Sài Gòn Giải Phóng, và Đài Tiếng nói Việt Nam lập tức phát sóng ca khúc "Tiếng hát từ thành phố mang tên Người" để loan tin vui đến quốc dân.
Nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định mít tinh chào mừng thành phố chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh.
4. Sự kiến tạo toàn diện của Thành phố Hồ Chí Minh sau ngày đổi tên đến trước Chiến tranh biên giới Tây Nam
Thiết chế chính trị và tổ chức bộ máy quản lý hành chính
Sau khi có quyết định đổi tên ngày 2 tháng 7 năm 1976, thành phố nhanh chóng kiện toàn bộ máy chính trị xã hội chủ nghĩa và phân chia lại địa giới hành chính.
Về mặt Đảng bộ, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng vào tháng 12 năm 1976, đồng chí Nguyễn Văn Linh được phân công làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Đến nhiệm kỳ Ban Chấp hành Đảng bộ khóa I (giai đoạn 1977 - 1980), đồng chí Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) đảm nhiệm vai trò Bí thư Thành ủy, đồng chí Mai Chí Thọ (Năm Xuân) và đồng chí Trần Ngọc Ban (Mười Hương) giữ chức Phó Bí thư.
Về mặt chính quyền, sau cuộc tổng tuyển cử bầu HĐND các cấp vào tháng 4 năm 1976, Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khóa I được thành lập. Cơ cấu HĐND khóa I bao gồm nhiều thành phần xã hội, trong đó có 4 đại biểu là người ngoài Đảng; số lượng đại biểu phân bổ gồm 28 người thuộc cơ quan Đảng, 21 người trong chính quyền, 14 người thuộc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, 3 người thuộc lực lượng vũ trang và 27 đại biểu thuộc các khối ngành khác.
Ủy ban nhân dân cách mạng thành phố bước vào hoạt động chính thức từ tháng 6 năm 1977 với cơ cấu nhân sự được ghi nhận như sau:
| Chức vụ trong UBND | Nhân sự đảm nhiệm | Thời gian công tác | Ghi chú và biến động nhân sự trong nhiệm kỳ |
|---|---|---|---|
| Chủ tịch | Vũ Đình Liệu (Tư Bình) | 06/1977 - 03/1979 | Đảm nhiệm giai đoạn đầu thiết lập chính quyền thành phố. |
| Phó Chủ tịch | Mai Chí Thọ | 06/1977 - 03/1979 | Kiêm nhiệm Giám đốc Công an Thành phố; được bầu làm Chủ tịch tại Kỳ họp thứ VI (tháng 3/1979). |
| Phó Chủ tịch | Nguyễn Kiến Lập | 06/1977 - 1981 | Phụ trách khối ngành chuyên môn. |
| Phó Chủ tịch | Lê Đình Nhơn | 06/1977 - 1981 | Tham gia điều hành từ những ngày đầu. |
| Phó Chủ tịch | Võ Thành Công | 06/1977 - 1981 | Ủy viên Ủy ban nhân dân khóa I. |
| Phó Chủ tịch | Văn Đại (Vũ Đại) | 06/1977 - 1981 | Tham gia quản lý khối kinh tế - kế hoạch. |
| Phó Chủ tịch | Lê Quang Chánh | 06/1977 - 1981 | Điều hành các công tác ngoại vụ và xã hội. |
| Phó Chủ tịch bổ sung | Phan Minh Tánh | 09/1979 - 11/1980 | Được bầu bổ sung tại Kỳ họp thứ IX; từ nhiệm tháng 11/1980 để chuyển công tác khác. |
| Phó Chủ tịch bổ sung | Đỗ Duy Liên | Từ 11/1980 | Được bầu bổ sung tại Kỳ họp thứ XIII. |
| Phó Chủ tịch bổ sung | Nguyễn Võ Danh | Từ 11/1980 | Được bầu bổ sung tại Kỳ họp thứ XIII. |
| Ủy viên Thư ký | Dương Đình Thảo | 06/1977 - 09/1979 | Chuyển công tác sau Kỳ họp thứ IX; ông Nguyễn Văn Tùng được bầu thay thế. |
Về phân chia địa giới hành chính, năm 1976, diện tích tự nhiên của thành phố đạt 2.029km2 với quy mô dân số khoảng 3,5 triệu người, được chia thành 12 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành. Đến ngày 29 tháng 12 năm 1978, Quốc hội quyết định sáp nhập huyện Duyên Hải (sau đổi tên thành huyện Cần Giờ vào năm 1991) từ tỉnh Đồng Nai vào Thành phố Hồ Chí Minh, giúp thành phố mở rộng không gian và nâng số đơn vị hành chính lên 18 đơn vị quận, huyện.
Đời sống kinh tế - xã hội và công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư doanh
Nền kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tiếp quản lâm vào tình cảnh vô cùng khó khăn do hậu quả chiến tranh và sự phụ thuộc hoàn toàn của hệ thống công nghiệp cũ vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Trong bối cảnh đó, chính quyền tiến hành áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp một cách nhanh chóng.
Để thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội chủ nghĩa, thành phố đã triển khai các chiến dịch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh quy mô lớn mang mật danh X1 và X2. Các chiến dịch này tập trung xóa bỏ thương nghiệp tự do, quốc hữu hóa các cơ sở sản xuất tư nhân và chuyển đổi sở hữu tư bản thành sở hữu nhà nước.
Hệ quả trực tiếp của các chiến dịch cải tạo này đã làm tê liệt phần lớn năng lực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tự doanh vốn có của thành phố. Các cửa hàng kinh doanh bị đóng cửa hoặc thu hẹp diện tích hoạt động. Theo chủ trương của chính quyền, đến ngày hạn chót là 10 tháng 6 năm 1978, các nhà tư sản thương nghiệp buộc phải đóng cửa tiệm để rời thành phố đi tham gia sản xuất tại các vùng kinh tế mới.
Những học sinh ở vùng kinh tế mới Sông Bé
Sự đứt gãy của hệ thống phân phối tự do cộng với cơ chế phân phối khẩu phần nghiêm ngặt (chế độ bao cấp) đã khiến đời sống người dân rơi vào tình trạng thiếu thốn trầm trọng. Thực phẩm, lương thực và nhu yếu phẩm hằng ngày trở nên vô cùng khan hiếm, đẩy thành phố vào một cuộc khủng hoảng thiếu hụt nghiêm trọng.
Tuy nhiên, chính áp lực nặng nề này đã kích thích tinh thần năng động, sáng tạo của các nhà lãnh đạo thành phố giai đoạn đầu, thúc đẩy sự hình thành các mô hình "phá rào" thu mua gạo theo giá thị trường của Công ty Lương thực Thành phố dưới sự bảo trợ của Bí thư Võ Văn Kiệt để cứu đói cho nhân dân, tạo tiền đề thực tiễn quan trọng cho công cuộc Đổi mới sau này.
Công tác giữ gìn an ninh trật tự và biến cố nhà thờ Vinh Sơn
Tình hình an ninh chính trị tại thành phố sau năm 1975 vô cùng phức tạp với sự tồn tại ngầm của nhiều tổ chức chống đối có vũ trang. Nghiêm trọng nhất trong số đó là vụ án nhóm vũ trang "Dân quân phục quốc" do Nguyễn Việt Hưng (một cựu sĩ quan quân đội chế độ cũ) cầm đầu, lập căn cứ bí mật ngay tại Nhà thờ Vinh Sơn trên đường Trần Quốc Toản (nay là đường Ba Tháng Hai, Quận 10).
Tổ chức này đã thực hiện in ấn, phát tán hàng ngàn truyền đơn kích động lật đổ chính quyền, thiết lập đài phát thanh ngầm chống đối, tổ chức in tiền giả phá hoại kinh tế và tàng trữ một lượng lớn vũ khí quân dụng. Mạng lưới của nhóm phát triển nhanh chóng ra 17 tỉnh thành phía Nam.
Đêm ngày 13 tháng 2 năm 1976, lực lượng Công an Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với các lực lượng an ninh đã bất ngờ đột kích vây ráp nhà thờ Vinh Sơn. Nhóm vũ trang "Dân quân phục quốc" đã nổ súng chống trả quyết liệt bằng vũ khí nóng, tạo nên một cuộc đấu súng dữ dội giữa lòng đô thị.
Lực lượng công an cuối cùng đã khống chế hoàn toàn ổ đề kháng, bắt giữ các thủ lĩnh chủ chốt, tịch thu máy phát sóng, thiết bị in tiền giả và vũ khí.
Tháng 9 năm 1976, Tòa án nhân dân tại thành phố đã mở phiên tòa xét xử công khai vụ án nhà thờ Vinh Sơn. Tòa án đã tuyên phạt mức án tử hình đối với ba bị cáo đầu vụ gồm Nguyễn Việt Hưng, linh mục Nguyễn Hữu Nghị và Nguyễn Xuân Hùng (các án tử hình này được thi hành vào lúc 8 giờ sáng ngày 15 tháng 3 năm 1978). Các bị cáo khác nhận mức án từ 3 năm tù, 20 năm tù (như cựu trung tá Trần Kim Định) đến tù chung thân (như Nguyễn Khắc Chính).
Vụ án Vinh Sơn là một dấu mốc quan trọng trong công tác giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội của thành phố trong những năm đầu sau ngày thống nhất.
Các chiến sĩ Giải phóng đi tuần tra trên đường Lê Lợi.
5. Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam
Khi chính quyền diệt chủng Pol Pot - Khmer Đỏ tiến hành xâm phạm toàn tuyến biên giới Tây Nam của Việt Nam từ cuối năm 1977, tàn sát dã man dân thường dọc biên giới, Thành phố Hồ Chí Minh đã lập tức chuyển trạng thái sang thời chiến, huy động mạnh mẽ sức người và sức của chi viện cho mặt trận.
Sự dũng cảm hy sinh của lực lượng Thanh niên xung phong Thành phố
Lực lượng Thanh niên xung phong (TNXP) Thành phố Hồ Chí Minh đã tình nguyện ra tiền tuyến làm nhiệm vụ phối hợp chiến đấu cùng Sư đoàn 7 (Quân đoàn 4) và các đơn vị chủ lực. Nhiệm vụ của họ vô cùng hiểm nguy và gian khổ: di chuyển dưới làn đạn cứu thương, tải đạn, làm đường chống lầy, vận chuyển quân trang quân dụng và khâm liệm tử sĩ. Ngày 14 tháng 6 năm 1978, Liên đội 5 TNXP với 500 đội viên (trong đó có 65 nữ) đã lên đường ra chốt chặn phục vụ tại khu vực Rừng Nhum, xã Long Phước, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
Đỉnh điểm của sự hy sinh bi tráng là sự kiện thảm sát xảy ra ngày 22 tháng 7 năm 1978 tại xã Kokisom, tỉnh Svay Rieng, Campuchia:
Đỉnh điểm của sự hy sinh bi tráng: Thảm sát Kokisom (22/07/1978)
Địa điểm xảy ra tại xã Kokisom, tỉnh Svay Rieng, Campuchia.
Ngày thứ bảy, 21-7-1978, Trung đội 3 TNXP thuộc Liên đội 303 gồm 18 chàng trai và 8 cô gái vừa đến xã Kokisom, tỉnh Svay Rieng, Campuchia. Trung đội trưởng Ngô Đức Minh sắp xếp lại kho gạo để chuẩn bị tiếp tế cho Sư 7, Quân đoàn 4, đơn vị bộ đội mà liên đội sẽ phối hợp trong những ngày chiến đấu gian nan sắp tới, trên đất bạn.
Khi cả trung đội đang ngủ, một lực lượng lớn lính Pol Pot bất ngờ tràn vào lán trại tập kích. Đơn vị bộ đội bảo vệ chốt ngoài do nhận lệnh rút đi đột xuất trong đêm đã không kịp thông báo cho trung đội TNXP biết.
Bị tấn công bất ngờ, các chiến sĩ TNXP nam đã hướng dẫn các đội viên nữ xuống hầm trú ẩn và kiên cường bám bờ ruộng nổ súng trả đũa cầm chừng để giữ chân địch. Tuy nhiên, do súng đạn quá ít, phòng tuyến của TNXP nhanh chóng bị đè bẹp.
Quân Pol Pot tàn ác đã lôi những người còn sống ra bãi trống, đánh đập dã man và xả súng thảm sát. Vụ tập kích khiến 24 chiến sĩ TNXP hy sinh anh dũng.
Chỉ có hai người may mắn sống sót:
- Anh Nguyễn Văn Tuấn: Bị thương ở chân, được xác của tiểu đội trưởng nằm đè lên che khuất.
- Bà Nguyễn Thị Lý: Bị lính Pol Pot trói tay, đánh đập dã man và ngã xuống bùn ngất đi, sau đó được bộ đội cứu thoát cùng quả lựu đạn rút chốt găm trên người.
Trận chiến tại Ko-ki Som đã trở thành biểu tượng bất tử về tinh thần quả cảm, sẵn sàng hy sinh xương máu bảo vệ chủ quyền biên giới của thế hệ trẻ Thành phố mang tên Bác.
Đồng đội và người thân quây quần trên nắp hầm chữ A, trước bia khắc tên 24 liệt sĩ nơi xảy ra trận thảm sát năm xưa
Các chiến dịch quân sự tiêu biểu của Trung đoàn Gia Định
Trung đoàn Gia Định - đơn vị vũ trang nòng cốt của Bộ Chỉ huy quân sự Thành phố Hồ Chí Minh - đã trực tiếp tham gia nhiều chiến dịch dập tắt các đợt lấn chiếm của quân Khmer Đỏ từ những ngày đầu chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ.
Thống kê các trận đánh tiêu biểu có sự tham gia của Trung đoàn Gia Định:
| Trận đánh | Thời gian diễn ra | Đơn vị tham chiến | Kết quả và ý nghĩa chiến thuật |
|---|---|---|---|
| Trận Vạc Sa - Láng Cát | 22/12/1977 | Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn Gia Định) phối hợp với Đại đội 1 (Tiểu đoàn tăng - thiết giáp 21, Trung đoàn 26) | Thực hiện tập kích thành công, đánh tan một mũi tiến công lấn chiếm biên giới của quân Pol Pot tại khu vực Vạc Sa, tỉnh Tây Ninh |
| Trận Kát Đai | 04/01/1978 | Trung đoàn Gia Định phối hợp với Tiểu đoàn Phú Lợi (Sông Bé) và Đại đội thiết giáp (Sư đoàn bộ binh 302) | Tổ chức tập kích hiệp đồng binh chủng, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực của một trung đoàn thiếu thuộc Sư đoàn chủ lực 117 của quân Khmer Đỏ tại biên giới |
Những trận đánh dũng cảm của Trung đoàn Gia Định và sự hy sinh kiên cường của các chiến sĩ TNXP thành phố trong giai đoạn 1977 - 1978 không chỉ giữ vững toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc tại biên giới Tây Nam, mà còn là bước chuẩn bị lực lượng và bàn đạp chiến lược quan trọng phối hợp với quân chủ lực mở chiến dịch tổng phản công giải phóng thủ đô Phnôm Pênh vào ngày 7 tháng 1 năm 1979.
Trưa 7/1/1979, các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia cùng Quân tình nguyện Việt Nam tiến vào giải phóng Thủ đô Phnom Penh.
6. Kết luận
Quyết nghị lịch sử ngày 2 tháng 7 năm 1976 đặt tên Thành phố Hồ Chí Minh là kết tinh trọn vẹn của khát vọng thống nhất non sông, là sự ghi nhận xứng đáng cho những đóng góp và hy sinh to lớn của nhân dân Sài Gòn - Gia Định trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ.
Ngay sau ngày thống nhất, dù phải đối mặt với muôn vàn thử thách khắc nghiệt về kinh tế bao cấp, biến động xã hội từ cải tạo công thương nghiệp, các âm mưu bạo loạn chính trị như vụ án Vinh Sơn, và cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ, thành phố mang tên Bác đã chứng minh bản lĩnh năng động, dám nghĩ, dám làm. Những đóng góp xương máu của lực lượng vũ trang Trung đoàn Gia Định cùng các thế hệ thanh niên xung phong trên tuyến đầu biên cương đã viết nên khúc tráng ca bảo vệ đất nước, đồng thời gieo những hạt giống đầu tiên cho hành trình đổi mới tư duy kinh tế của cả nước trong kỷ nguyên mới.