Ảnh bìa

Tìm hiểu lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 4: Tiến trình lịch sử Sài Gòn - Gia Định từ năm 1954 đến Đại thắng Mùa Xuân
30 tháng 4 năm 1975

Một thiên sử thi hào hùng về ý chí quyết chiến và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc.

1. Kháng chiến chín năm của quân dân Sài Gòn - Gia Định và cục diện Hiệp định Giơ-ne-vơ (1945 - 1954)

Nam Bộ Kháng Chiến

Bản hùng ca kháng chiến của quân dân Sài Gòn - Gia Định chống thực dân Pháp tái xâm lược được khơi nguồn ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Vào ngày Lễ Độc lập 2 tháng 9 năm 1945, bầu không khí tự do tại đô thành đã bị vẩn đục bởi những hành động khiêu khích trắng trợn từ phía thực dân Pháp, dẫn đến sự hy sinh của người liệt sĩ đầu tiên cùng 47 đồng bào khác. Trước sự phẫn nộ tột cùng, hàng vạn quần chúng đã tự nổi dậy truy lùng và tước khí giới gần 100 binh lính Pháp, thể hiện ý chí quyết tâm "độc lập hay là chết".

Sự căng thẳng tiếp tục leo thang khi quân viễn chinh Pháp, dưới sự tiếp tay đắc lực của lực lượng Anh - Ấn do Thiếu tướng Douglas Gracey chỉ huy, chính thức nổ súng đánh chiếm các công sở hành chính vào đêm 23 tháng 9 năm 1945. Trong bối cảnh đó, các sĩ quan tình báo quân sự Mỹ thuộc cơ quan OSS như George Wickes hay A. Peter Dewey đã có mặt tại Sài Gòn để quan sát tình hình. Khi chứng kiến sự dung túng của quân Anh đối với hành động cướp bóc và bắt bớ của người Pháp, Dewey đã phản đối mạnh mẽ để rồi bị Gracey trục xuất ngay sau đó, phản ánh sự xung đột ngầm về lợi ích giữa các thế lực ngoại quốc tại chiến trường Đông Dương ngay từ buổi bình minh của cuộc chiến.

Để đáp trả cuộc xâm lược, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ lập tức phát đi lời hiệu triệu tiêu thổ kháng chiến, biến Sài Gòn thành một đô thị bất hợp tác. Toàn bộ các hoạt động giao thương bị ngưng trệ, công sở đóng cửa, nhà máy điện bị phá hủy khiến thành phố chìm trong bóng tối, và các tuyến đường huyết mạch bị phong tỏa bởi hàng loạt chướng ngại vật dựng từ bàn ghế, tủ giường.

Lực lượng vũ trang non trẻ của đô thị, tiêu biểu là bộ đội Bình Xuyên với nòng cốt ban đầu là giới du đãng tự phát vùng ven do Dương Văn Dương (Ba Dương) làm Tổng chỉ huy, đã nhanh chóng xây dựng chiến khu tại Vườn Thơm (Bình Chánh) và thành lập Chi đội 9 do Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) chỉ huy. Đêm 24 tháng 9 năm 1945, lực lượng Bình Xuyên đã tổ chức cuộc tập kích táo bạo vào khu Hérault tại Tân Định, bắt giữ 300 thường dân Pháp nhằm gây sức ép chính trị lên bộ chỉ huy quân viễn chinh.

Sự hy sinh anh dũng của Tổng chỉ huy Ba Dương vào ngày 20 tháng 2 năm 1946 tại mặt trận An Hóa - Giao Hòa (Bến Tre) khi đang vượt sông Soài Rạp để cứu nguy cho đồng đội đã trở thành một tổn thất lớn, châm ngòi cho những rạn nứt nội bộ sâu sắc trong lực lượng Bình Xuyên sau này khi Bảy Viễn tìm mọi cách thâu tóm quyền lực bất chấp sự phản đối của các chi đội trưởng khác.

Dương Văn Dương năm 1945.

Song hành cùng các mũi tấn công quân sự, cuộc đấu tranh trên mặt trận văn hóa, tôn giáo và tài chính tại Sài Gòn - Gia Định diễn ra vô cùng cam go.

Ngay từ những năm 1945 - 1946, hàng loạt chi hội Phật giáo Cứu quốc đã ra đời tại Sài Gòn, Gia Định và Chợ Lớn, âm thầm bảo vệ đạo mạch trong cơn binh lửa và quyên góp tài chính, lương thực để ủng hộ chính phủ kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ý thức đấu tranh độc lập của giới trí thức đô thành cũng được khẳng định khi các nhân sĩ nổi tiếng như bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng và kỹ sư Lưu Văn Lang thẳng thừng từ chối lời mời tham chính của Pháp, khiến chính quyền thực dân phải chật vật lập ra chính phủ bù nhìn Nam Kỳ quốc vào ngày 7 tháng 5 năm 1946 với một nội các bù nhìn gồm 9 thành viên mà có tới 7 người mang quốc tịch Pháp.

Ý niệm về sự thống nhất đất nước và tình cảm sắt son của đồng bào Nam Bộ đối với cách mạng đã được thể hiện qua sự kiện lịch sử ngày 25 tháng 8 năm 1946.

Tại Hà Nội, trong cuộc họp của Phòng Nam Bộ Trung ương đặt tại đường Gia Định (nay là đường Trần Nhật Duật), bác sĩ Trần Hữu Nghiệp đã đưa ra đề xuất mang tính tiên phong: đổi tên thành phố Sài Gòn thành "Thành phố Hồ Chí Minh" để biểu thị quyết tâm chiến đấu, hy sinh và cương quyết trở về với Tổ quốc của dân Nam Bộ.

Đề xuất này lập tức nhận được sự đồng thuận tuyệt đối của 57 nhân sĩ, trí thức miền Nam tham gia cách mạng có mặt tại buổi họp (bao gồm cả luật sư Trần Công Tường và bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng) cùng ký tên vào bản quyết nghị gửi lên Quốc hội và Chính phủ.

Ngày 27 tháng 8 năm 1946, tờ báo Cứu Quốc đã chạy dòng tít lớn trang trọng khẳng định sự kiện này, tạo nên một biểu tượng tinh thần mạnh mẽ đúng vào thời điểm Hội nghị Fontainebleau đang rơi vào bế tắc do phía Pháp đơn phương lập ra cái gọi là "Cộng hòa Nam Kỳ tự trị".

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn Việt Nam tại hội nghị Fontainebleau 1946

Trên mặt trận kinh tế và tài chính, để phá hoại nền móng của chính quyền cách mạng, thực dân Pháp đã ra lệnh thu hồi đột ngột đồng bạc giấy Đông Dương mệnh giá 100 đồng đỏ trong vòng 7 ngày nhằm tước đoạt tài sản của nhân dân.

Để đối phó, chính quyền kháng chiến Nam Bộ đã sáng tạo ra giải pháp xé đôi tờ giấy bạc 100 đồng đỏ này để lưu hành với giá trị 50 đồng trong vùng tự do, thiết lập một ranh giới tiền tệ vững chắc ngăn chặn sự phá hoại của địch.

Khi giấy bạc tài chính Cụ Hồ chính thức ra đời ngày 30 tháng 11 năm 1946, nhân dân Sài Gòn và các vùng phụ cận đã đồng lòng hưởng ứng phong trào "Xài tiền Cụ Hồ là yêu nước", thậm chí truyền tai nhau khẩu hiệu "tiền Cụ Hồ rách, còn một cái râu cũng xài", đẩy dần đồng tiền của Ngân hàng Đông Dương ra khỏi vùng kháng chiến.

Ngược lại, trong vùng bị tạm chiếm, thực dân Pháp phát hành tiền vô tội vạ khiến khối lượng tiền giấy lưu hành tăng gần 200 lần từ năm 1913 đến năm 1951, gây ra nạn lạm phát phi mã khủng khiếp buộc người dân đô thị nhiều khi phải xé đôi các tờ tiền lẻ để thanh toán.

Cuộc đấu tranh chính trị tại đô thành đạt tới đỉnh cao vào đầu thập niên 1950 với hai sự kiện gây chấn động dư luận quốc tế.

Ngày 9 tháng 1 năm 1950, phong trào biểu tình của học sinh, sinh viên Sài Gòn đòi quyền tự do học đường đã bị chính quyền thực dân đàn áp đẫm máu, dẫn đến cái chết của người học sinh trường Pétrus Ký Trần Văn Ơn.

Tang lễ của anh vào ngày 12 tháng 1 năm 1950 đã biến thành cuộc biểu dương lực lượng khổng lồ của hơn 5 vạn đồng bào đứng chật các hè phố, đi đầu là bức huyết thư của học sinh mang dòng chữ: "Chết vì tổ quốc, chết mà vẫn sống, Sống kiếp Việt gian, ô nhục muôn đời".

Tiếp đó, ngày 19 tháng 3 năm 1950, để phản đối sự can thiệp trực tiếp của đế quốc Mỹ, luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã dẫn đầu cuộc mít tinh của gần nửa triệu người tại trường Tôn Thọ Tường (nay là trường THPT Ernst Thälmann), biến thành cuộc biểu tình rầm rộ tiến về phía cảng Sài Gòn.

Trước đó một đêm, ba khẩu súng cối 82mm tự chế của Trung đoàn 300 đã nã 20 phát đạn vào hai tàu chiến Mỹ đang neo đậu tại cảng để cảnh cáo. Sức ép nghẹt thở từ phong trào quần chúng đã buộc hai tàu chiến Mỹ phải nhổ neo rút lui ngay trong đêm, đánh dấu bước ngoặt đưa ngày 19 tháng 3 trở thành "Ngày toàn quốc chống Mỹ".

Trải qua chín năm đấu tranh kiên cường, sức mạnh của chiến tranh nhân dân tại Sài Gòn - Gia Định đã kìm chân một lực lượng lớn quân viễn chinh Pháp, chia lửa trực tiếp với chiến trường Điện Biên Phủ. Chiến thắng lừng lẫy tại thung lũng Mường Thanh ngày 7 tháng 5 năm 1954 đã đập tan nỗ lực chiến tranh cao nhất của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc chính phủ Pháp phải chấp nhận ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ nhằm chấm dứt chiến tranh xâm lược.

2. Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 dưới lăng kính địa chính trị

Cầu Hiền Lương

Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954 là một văn bản pháp lý quốc tế mang tính bước ngoặt, thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Lào và Campuchia bao gồm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Hiệp định quy định ngừng bắn lập tức trên toàn cõi Đông Dương, cấm đưa quân đội và vũ khí nước ngoài vào khu vực, đồng thời ấn định vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời để hai bên thực hiện tập kết và chuyển quân.

Theo các điều khoản, giới tuyến này hoàn toàn không có giá trị như một biên giới quốc gia hay lãnh thổ chính trị, và đất nước sẽ được thống nhất thông qua một cuộc Tổng tuyển cử tự do dự kiến tổ chức vào tháng 7 năm 1956 dưới sự giám sát của Ủy ban quốc tế.

Dưới góc độ phân tích địa chính trị sâu sắc, Hiệp định Giơ-ne-vơ là kết quả của sự cọ xát và thỏa hiệp đầy phức tạp giữa các cường quốc trong bối cảnh cục diện Chiến tranh Lạnh đang định hình thế giới hai cực. Các bên tham gia hội nghị đều bước vào bàn đàm phán với những toan tính chiến lược và lợi ích quốc gia riêng biệt:

🔴 Pháp: Đứng trước gánh nặng tài chính khổng lồ và sự lung lay sâu sắc về tâm lý xã hội trong nước sau thất bại Điện Biên Phủ, chính phủ Pháp (đặc biệt là nội các chủ hòa của Thủ tướng Pierre Mendès France) muốn nhanh chóng rút lui khỏi cuộc chiến trong danh dự. Mục tiêu của họ là bảo toàn tối đa lực lượng viễn chinh để tập trung giữ các thuộc địa còn lại ở Bắc Phi, đồng thời giữ cho Lào và Campuchia không rơi vào tầm ảnh hưởng của cách mạng.

🔴 Hoa Kỳ: Với chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản lan rộng ở Đông Nam Á, Mỹ tìm mọi cách để can thiệp sâu hơn vào Đông Dương nhằm gạt bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của thực dân cũ Pháp và thiết lập chế độ thực dân mới của riêng mình. Do bị Quốc hội trong nước phản đối can thiệp quân sự trực tiếp, Mỹ đành nhắm mắt chấp nhận giải pháp đình chiến tạm thời nhưng kiên quyết không ký vào bản Tuyên bố chung của Hiệp định. Mục đích của Mỹ là nhanh chóng tìm kiếm một nhân vật tay sai chống cộng để xây dựng một nhà nước riêng biệt ở phía nam vĩ tuyến 17.

🔴 Trung Quốc: Vừa bước ra khỏi Chiến tranh Triều Tiên, Bắc Kinh muốn ưu tiên khôi phục kinh tế trong nước và tránh nguy cơ đối đầu quân sự trực tiếp với Mỹ ở biên giới phía nam. Do đó, Trung Quốc tích cực thúc đẩy giải pháp chia cắt tạm thời Việt Nam tại vĩ tuyến 17 để tạo ra một vùng đệm an ninh, đồng thời tận dụng diễn đàn Giơ-ne-vơ để bình thường hóa quan hệ ngoại giao và thương mại với các nước Tây Âu nhằm phá thế bao vây, cấm vận của Mỹ.

🔴 Liên Xô: Trong giai đoạn này, Liên Xô đang điều chỉnh chiến lược đối ngoại hướng tới xu thế hòa hoãn quốc tế với phương Tây nhằm giảm bớt căng thẳng của cuộc chạy đua vũ trang. Do có ít ảnh hưởng trực tiếp ở khu vực Đông Nam Á, Moscow đồng ý với giải pháp thỏa hiệp hòa bình tại Đông Dương để thúc đẩy đại cục ổn định toàn cầu.

Sự chồng chéo và mâu thuẫn về lợi ích của các cường quốc đã khiến kết quả của Hiệp định Giơ-ne-vơ không phản ánh hoàn toàn thế thắng trên chiến trường của lực lượng cách mạng Việt Nam. Việc phân chia giới tuyến tạm thời và hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến hai năm đã vô tình tạo điều kiện cho Hoa Kỳ nhanh chóng nhảy vào miền Nam, biến vĩ tuyến 17 thành một chiến tuyến ngăn cách lâu dài và thiết lập một chính quyền tay sai có thái độ thù địch tại Sài Gòn.

Dân chủ kiểu Mỹ

3. Giai đoạn chuyển tiếp từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ đến khi thành lập Việt Nam Cộng hòa (1954 - 1955)

Theo Chúa vào Nam

Ngay sau khi tiếng súng đình chiến theo Hiệp định Giơ-ne-vơ tạm lắng, Sài Gòn bước vào một giai đoạn chuyển tiếp chính trị vô cùng hỗn loạn.

Lợi dụng sự suy yếu và từng bước triệt thoái của quân đội Pháp, Mỹ bắt đầu can thiệp sâu sắc vào nội tình miền Nam. Tháng 7 năm 1954, dưới sự vận động mạnh mẽ của Washington, Quốc trưởng Bảo Đại buộc phải bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng chính phủ Quốc gia Việt Nam.

Khi đặt chân đến Sài Gòn, Ngô Đình Diệm đối mặt với một thực tế quyền lực phân rã vô cùng hiểm nghèo: quân đội quốc gia vẫn chịu sự chỉ huy của các sĩ quan thân Pháp (như tướng Nguyễn Văn Hinh đang đe dọa đảo chính), trong khi các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và đặc biệt là lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn đang khống chế toàn bộ hệ thống cảnh sát và các nguồn thu tài chính béo bở của đô thành.

Để tồn tại và củng cố quyền lực tuyệt đối, Ngô Đình Diệm đã phối hợp chặt chẽ với các cố vấn tình báo Mỹ, tiêu biểu là Edward Lansdale, tiến hành chiến dịch truy quét các thế lực đối lập.

Mục tiêu hàng đầu là dẹp bỏ lực lượng Bình Xuyên đang kiểm soát sòng bạc Đại Thế Giới (Grand Monde) ở Chợ Lớn và sòng bạc Kim Chung ở khu vực Cầu Muối. Các sòng bạc này vốn là nguồn tài chính khổng lồ giúp Bình Xuyên duy trì bộ máy quân sự riêng và hối lộ cho lối sống xa hoa của Quốc trưởng Bảo Đại (Bảy Viễn từng dâng nộp cho Bảo Đại tới 250.000 đồng Đông Dương mỗi tháng để được nhận làm em nuôi).

Đầu năm 1955, Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh dẹp bỏ hai sòng bạc này, châm ngòi cho cuộc xung đột vũ trang trực diện giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên.

Cuối tháng 4 năm 1955, quân Bình Xuyên nổ súng tấn công Dinh Độc Lập bằng súng cối. Cuộc chiến đô thị diễn ra ác liệt dọc theo khu vực Chánh Hưng và Cầu Chữ Y. Nhờ sự yểm trợ tài chính và vũ khí của Mỹ, quân đội của Diệm phối hợp với lực lượng Cao Đài ly khai của Trịnh Minh Thế đã đánh bật quân Bình Xuyên ra khỏi nội đô, dồn họ rút về phía Rừng Sác.

Đến tháng 9 năm 1955, Ngô Đình Diệm chỉ đạo Đại tá Dương Văn Minh mở Chiến dịch Hoàng Diệu, sử dụng hỏa lực mạnh bao vây và tiêu diệt hoàn toàn 6 tiểu đoàn Bình Xuyên tại mật khu Rừng Sác, buộc Bảy Viễn phải trốn thoát sang Campuchia rồi lưu vong sang Pháp, chấm dứt hoàn toàn thực lực của thế lực giang hồ này.

Giao tranh với quân Bình Xuyên tại Sài Gòn

Sau khi quét sạch các sứ quân đô thị, Ngô Đình Diệm tiến hành bước đi quyết định nhằm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại.

Ngày 23 tháng 10 năm 1955, một cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức để cử tri lựa chọn giữa nền cộng hòa do Diệm đứng đầu và nền quân chủ của Bảo Đại. Đây thực chất là một trò hề dân chủ được dàn dựng tinh vi dưới sự thao túng của Ngô Đình Nhu.

Bộ máy mật vụ và cảnh sát của Diệm đã tiến hành một chiến dịch tuyên truyền bôi nhọ Bảo Đại là kẻ sa đọa, phản quốc, đồng thời răn đe cử tri bằng cách đến từng nhà cảnh báo về hậu quả nếu không bỏ phiếu cho Diệm.

Kết quả cuộc trưng cầu dân ý được công bố với tỷ lệ chiến thắng không tưởng: Ngô Đình Diệm đạt 98,9% số phiếu bầu. Tại đô thành Sài Gòn, sự gian lận diễn ra trắng trợn khi Diệm nhận được tới hơn 605.000 phiếu bầu, trong khi toàn thành phố chỉ có khoảng 450.000 cử tri đăng ký.

Bất chấp sự mỉa mai của dư luận quốc tế, Ngô Đình Diệm lập tức tuyên bố phế truất Bảo Đại, tự phong làm Tổng thống và thành lập chính thể Việt Nam Cộng hòa (Đệ Nhất Cộng hòa) vào ngày 26 tháng 10 năm 1955, chính thức biến Sài Gòn thành thủ đô của một chế độ độc tài gia đình trị mới.

Phế truất Bảo Đại

4. Biến động chính trị, kinh tế, xã hội và phong trào đấu tranh tại đô thành Sài Gòn - Gia Định

Củ Chi

Tác động địa chính trị và quân sự hóa của Hoa Kỳ

Kể từ sau năm 1954, Sài Gòn - Gia Định hoàn toàn bị cuốn vào vòng xoáy can thiệp quân sự và viện trợ áp đặt của Hoa Kỳ nhằm biến nơi đây thành một tiền đồn kiên cố chống Cộng ở Đông Nam Á.

Ngày 17 tháng 11 năm 1954, Đại sứ Mỹ Joseph Lawton Collins đã trình lên Washington kế hoạch 6 điểm, định hình toàn bộ chính sách đối với miền Nam bao gồm viện trợ quân sự trực tiếp không qua tay Pháp, phát triển quân đội chính quy lên 15 vạn quân dưới sự huấn luyện của sĩ quan Mỹ, và thực hiện các cải cách điền địa.

Đến giữa năm 1956, Hoa Kỳ đã thiết lập tại Sài Gòn một hệ thống phái đoàn cố vấn đồ sộ gồm MAAG, TRIM, CATO, TERM và sau đó là các phái đoàn dân sự - học thuật như MSU và USOM nhằm kiểm soát toàn diện từ quân sự, cảnh sát đến hành chính công.

Hệ quả của quá trình quân sự hóa này là sự ra đời của các căn cứ quân sự khổng lồ bao quanh thành phố như sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Hòa và cảng Sài Gòn. Nguồn viện trợ dồi dào từ Mỹ đã tạo ra một nền kinh tế tiêu dùng sầm uất giả tạo tại đô thành, nhưng đồng thời bóp nghẹt mọi nỗ lực phát triển công nghiệp tự chủ. Hầu hết các cơ sở sản xuất công nghiệp tập trung cao độ tại tam giác Sài Gòn - Gia Định - Biên Hòa đều mang tính chất gia công, lệ thuộc hoàn toàn vào nguyên, nhiên liệu nhập cảng.

Sóng gió trên chính trường Sài Gòn: Chuỗi binh biến và đảo chính liên tục (1960 - 1965)

Sài Gòn giai đoạn 1960 - 1965 không có lấy một ngày bình yên khi trở thành sân khấu cho hàng loạt vụ binh biến, chỉnh lý và đảo chính đẫm máu giữa các tướng lĩnh quân đội cũ, phản ánh sự suy sụp từ gốc rễ của chế độ tay sai dưới áp lực của phong trào cách mạng.

Cuộc đảo chính ngày 11 tháng 11 năm 1960: Do Đại tá Vương Văn Đông và Đại tá Nguyễn Chánh Thi chỉ huy lực lượng nhảy dù tấn công Dinh Độc Lập nhằm lật đổ Ngô Đình Diệm. Diệm đã dùng kế hoãn binh, giả vờ thương lượng đàm phán giải tán chính phủ để chờ các lực lượng trung thành về cứu viện. Cuộc đảo chính thất bại thảm hại, để lại hậu quả hơn 400 người chết (gồm nhiều thường dân hiếu kỳ đến xem). Chế độ Diệm sau đó tiến hành thanh trừng tàn khốc giới sĩ quan và các chính khách đối lập.

Vụ ném bom Dinh Độc Lập ngày 27 tháng 2 năm 1962: Hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc thuộc Không lực VNCH, lái hai chiến đấu cơ AD-6 ném bom oanh tạc sập một góc Dinh Độc Lập nhằm ám sát Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu nhưng bất thành.

Cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963: Sự mâu thuẫn sâu sắc giữa chính quyền Diệm với chính sách của Mỹ (đỉnh điểm là Biến cố Phật giáo năm 1963) đã khiến Washington quyết định "thay ngựa giữa dòng". Dưới sự hậu thuẫn và chỉ đạo trực tiếp từ Đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge, Hội đồng Quân nhân Cách mạng do tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn dẫn đầu đã nổ súng tấn công dinh lũy họ Ngô. Cuộc đảo chính giành chiến thắng, Đệ Nhất Cộng hòa sụp đổ, hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị hạ sát dã man trong chiếc xe thiết giáp M-113 tại khu vực Chợ Lớn.

Người Sài Gòn xuống đường ủng hộ đảo chính (11/1963)

Cuộc chỉnh lý ngày 30 tháng 1 năm 1964: Chỉ 3 tháng sau đảo chính, Trung tướng Nguyễn Khánh bất ngờ huy động lực lượng thiết giáp và nhảy dù bao vây tư dinh các tướng lĩnh tại Sài Gòn, thực hiện cuộc "chỉnh lý" không đổ máu để cướp quyền, giam lỏng nhóm tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn.

Vòng xoáy loạn tướng (1964 - 1965): Chỉ trong vòng 13 tháng tiếp theo, Sài Gòn chứng kiến đến 14 cuộc đảo chính và phản đảo chính lớn nhỏ. Tiêu biểu như vụ xua quân áp sát thủ đô ngày 13 tháng 9 năm 1964 của Trung tướng Dương Văn Đức và Thiếu tướng Lâm Văn Phát, và cuộc đảo chính ngày 19 tháng 2 năm 1965 do Đại tá Phạm Ngọc Thảo (chiến sĩ tình báo cách mạng nằm vùng) phối hợp với Lâm Văn Phát tổ chức lật đổ Nguyễn Khánh. Chính giới Sài Gòn rơi vào tình trạng hỗn loạn, vô chính phủ trầm trọng trước khi thế lực của Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ tạm thời dàn xếp ổn định bằng Đệ Nhị Cộng hòa.

Biệt động Sài Gòn và cú đấm thép Tết Mậu Thân 1968.

Trái ngược với sự hỗn loạn của chính quyền tay sai, lực lượng cách mạng tại Sài Gòn - Gia Định âm thầm xây dựng một thế trận chiến tranh đô thị tinh vi chưa từng có.

Để bám trụ và tác chiến ngay giữa sào huyệt đối phương, Biệt động Sài Gòn đã dựa vào thế trận lòng dân vững chắc. Nhiều gia đình lao động, nhân sĩ yêu nước đã tự nguyện đào hầm bí mật ngay trong nhà mình để nuôi giấu cán bộ, lưu trữ hàng tấn vũ khí chiến lược (tiêu biểu như căn hầm tại số 287/70 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3 do nhà tư sản Trần Văn Lai tức Năm Lai thầu khoán quản lý) hay sử dụng tiệm Phở Bình (số 7 Yên Đỗ, nay là Lý Chính Thắng) làm Sở chỉ huy tiền phương của lực lượng biệt động.

Đêm 30 rạng sáng 31 tháng 1 năm 1968 (đêm mùng 1 rạng mùng 2 Tết Mậu Thân), lực lượng Biệt động Sài Gòn nhận mệnh lệnh đồng loạt nổ súng tấn công trực diện vào 5 mục tiêu đầu não chiến lược trọng yếu nhất của đối phương:

Diễn biến Tết Mậu Thân - Sài Gòn

Tòa Đại sứ Mỹ:

Đội 11 Biệt động gồm 15 chiến sĩ do Ba Đen chỉ huy áp sát bằng xe du lịch, dùng bộc phá đánh sập một mảng tường bao, tiêu diệt hiến binh gác cổng và chiếm giữ tòa nhà suốt hơn 6 giờ đồng hồ. Trận đánh nổ ra ngay giữa biểu trưng quyền lực tối cao của Mỹ tại miền Nam đã gây ra một "cơn địa chấn" truyền thông dữ dội, làm chấn động sâu sắc dư luận nước Mỹ.

Dinh Độc Lập:

Đội 5 Biệt động gồm 15 chiến sĩ dưới sự chỉ huy của Trương Hoàng Thanh (Ba Thanh) tấn công cổng Nguyễn Du. Do khối thuốc nổ phút chót bị ẩm mốc không kích nổ, lực lượng biệt động bị mắc kẹt tại cổng chính và chịu hỏa lực dữ dội từ lính phòng vệ phủ tổng thống. Đội trưởng Ba Thanh cùng 7 đồng đội hy sinh anh dũng. Các chiến sĩ còn lại rút lui, chiếm giữ tòa nhà cao tầng phố Thủ Khoa Huân để kiên cường chống trả lực lượng địch đông gấp trăm lần cho đến viên đạn cuối cùng.

Bộ Tổng tham mưu:

Đội biệt động 6 - 7 - 9 dưới sự chỉ huy của Đỗ Tấn Phong bất ngờ tập kích cổng số 4 (ngã ba Trương Quốc Dụng - Võ Tánh). Các chiến sĩ biệt động dũng cảm lợi dụng địa hình, dùng súng phòng thủ kiên cường, đẩy lùi nhiều đợt tiến công có xe tăng và phi pháo yểm trợ của địch suốt một ngày đêm.

Đài phát thanh Sài Gòn:

Đội 4 Biệt động gồm 12 chiến sĩ do Năm Lộc chỉ huy cải trang tiến công, chỉ trong vòng 5 phút đã làm chủ hoàn toàn lầu 1 tòa nhà. Địch điều động thiết giáp và lính dù bao vây phong tỏa dữ dội. Khi biết không thể giữ mục tiêu do không có quân tiếp viện, các chiến sĩ cuối cùng đã dũng cảm dùng bộc phá phá hủy toàn bộ trang thiết bị máy phát sóng để ngăn chặn địch sử dụng trước khi hy sinh.

Bộ Tư lệnh Hải quân:

Đội 3 Biệt động gồm 16 chiến sĩ do Nguyễn Văn Lép (Bảy Lốp) chỉ huy dũng mãnh đánh sập lô cốt phòng thủ tiền tiêu. Trước sự vây ráp của quân cảnh trên bộ và pháo hạm từ sông Sài Gòn bắn lên, các chiến sĩ đã chiến đấu kiêu hùng đến người cuối cùng, đội trưởng Bảy Lốp bị bắt và sát hại ngay tại trận địa.

Nữ Biệt động Sài Gòn nghiên cứu bản đồ Quận 7, trước giờ nổ súng tấn công các vị trí của địch

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tuy mang lại tổn thất xương máu to lớn cho lực lượng biệt động, nhưng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược: đập tan ý chí tiếp tục chiến tranh của giới cầm quyền Mỹ, buộc Tổng thống Lyndon B. Johnson phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán tại Paris.

Mạng lưới du kích nội đô Sài Gòn và Đặc công Rừng Sác

Cuộc kháng chiến chống Mỹ tại miền Nam đã hình thành nhiều mạng lưới chiến đấu bí mật và căn cứ nội đô quan trọng của quân và dân Sài Gòn – Gia Định.

Những cánh quân huyền thoại trong cuộc kháng chiến

Địa đạo Củ Chi: Hệ thống phòng thủ lòng đất

Là "thành trì" ngầm độc đáo ở cửa ngõ Tây Bắc Sài Gòn, Địa đạo Củ Chi không chỉ là nơi sinh hoạt, chiến đấu mà còn là minh chứng cho trí tuệ quân sự Việt Nam. Với hệ thống đường hầm chằng chịt, quân dân Củ Chi đã biến nơi đây thành "bẫy" tiêu diệt địch, làm thất bại nhiều chiến dịch càn quét quy mô lớn nhờ lối đánh du kích xuất quỷ nhập thần.

Đặc công Rừng Sác: Khắc tinh trên thủy lộ

Hoạt động trong môi trường rừng ngập mặn hiểm trở phía Nam, Đặc công Rừng Sác là những chiến binh tinh nhuệ với kỹ năng sinh tồn và tác chiến thủy bộ bậc thầy. Họ đã tạo nên những huyền thoại về tập kích kho tàng, tàu chiến địch, trực tiếp làm tê liệt các tuyến hậu cần huyết mạch trên sông Lòng Tàu, gây áp lực mạnh mẽ lên căn cứ đầu não của đối phương.

Biệt động Sài Gòn: Mũi nhọn trong lòng địch

Được mệnh danh là những "chiến sĩ không mặt", Biệt động thành là biểu tượng của tinh thần dũng cảm và mưu trí trong lòng đô thị. Dưới nhiều lớp vỏ bọc dân sự, họ thiết lập mạng lưới căn cứ bí mật ngay trong khu dân cư. Những trận đánh vào các mục tiêu trọng yếu, đặc biệt là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đã khẳng định vị thế của lực lượng biệt động trong việc làm suy yếu hệ thống quyền lực của đối phương ngay tại sào huyệt.

Mạng lưới Tình báo và Giao liên: Sợi dây thần kinh bí mật

Đứng sau các chiến công là sự hy sinh thầm lặng của mạng lưới tình báo và giao liên. Từ những cán bộ nằm vùng trong hàng ngũ địch đến những người dân thường dũng cảm, họ tạo nên "sợi dây thần kinh" bảo đảm thông tin thông suốt giữa các chiến trường. Chính sự mưu trí và lòng kiên trung của họ đã đóng góp quyết định vào thành công của các chủ trương chiến lược, dù phải đối mặt với muôn vàn hiểm nguy, tù đày và hy sinh.

Một cảnh trong phim "Biệt Động Sài Gòn" (Thương Tín vai Sáu Tâm, Hà Xuyên vai Ngọc Mai)

Các lực lượng ấy tuy hoạt động trong những điều kiện khác nhau nhưng đều có điểm chung là dựa vào nhân dân, tận dụng địa hình và đề cao yếu tố bí mật, bất ngờ. Những chiến công của Địa đạo Củ Chi, Đặc công Rừng Sác, Biệt động thành cùng các mạng lưới tình báo đã góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến, trở thành những trang sử hào hùng của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (Tháng 9/1969) - Đồng bào Sài Gòn biến đau thương thành hành động cách mạng

Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang ở giai đoạn cam go, khốc liệt nhất, ngày 2 tháng 9 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần. Tổn thất vĩ đại này đã gây ra một niềm đau xót vô hạn trong lòng đồng bào Sài Gòn - Gia Định, nơi Người đã ra đi tìm đường cứu nước và luôn đau đáu hướng về với câu nói lịch sử: "Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi".

Nhằm thể hiện tình cảm tôn kính vĩnh biệt Người, bất chấp lệnh thiết quân luật và mạng lưới cảnh sát, mật vụ dày đặc của chính quyền Thiệu, dưới sự chỉ đạo của Thành ủy Sài Gòn - Gia Định, lực lượng cách mạng đã ra lệnh ngừng bắn 3 ngày để tang Bác Hồ. Khắp đô thành, từ các khu lao động nghèo vùng ven đến các ngôi chùa cổ kính, một làn sóng "biến đau thương thành hành động cách mạng" đã bùng lên mạnh mẽ.

Lễ truy điệu công khai giữa lòng địch: Sự kiện lịch sử tiêu biểu diễn ra tại Chùa Khánh Hưng (Quận 3). Dưới sự vận động của cơ sở nằm vùng, Hòa thượng Thích Pháp Lan đã dũng cảm thiết lập bàn thờ cúng Bác và tổ chức một Lễ truy điệu công khai. Giữa làn khói hương nghi ngút và tiếng khóc nghẹn ngào của hàng ngàn Phật tử, Hòa thượng đã đọc bài điếu văn tự viết đầy lay động:

"Ôi! Đáng thương thay! Đáng tiếc thay! Thương là thương đấng thiên tài duy nhất, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Tiếc là tiếc bậc hào kiệt vô song, trọng nghĩa vụ nặng hơn núi cả... Nay hình bóng Bác đã quay về lòng đất Việt, song thanh danh còn lừng lẫy khắp năm châu. Tuy thân Người vắng dạng với giang san, nhưng tiếng tốt danh thơm nhắc nhở mãi muôn đời sử chép...".

Ngay sau lễ, đoàn người đã tràn ra đường tổ chức biểu tình lớn đòi hòa bình và chấm dứt chiến tranh.

Phong trào đeo băng tang và lập bàn thờ: Tại các gia đình lao động nghèo quận 4, quận 8, nhân dân âm thầm dán băng giấy đen, lấy những tấm ảnh cắt từ báo cũ để lập bàn thờ Bác. Nhiều gia đình truyền tay nhau đọc bản Di chúc thiêng liêng của Người. Người dân rỉ tai nhau đeo những dải băng tang nhỏ màu đen tự khâu bên trong nếp áo để tang Bác.

Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại khu giải phóng miền Nam, tháng 9-1969

Cuộc chiến giữ khí tiết trong các nhà lao: Nỗi đau mất lan vào các ngục tù Sài Gòn như Khám Chí Hòa, nhà lao Tân Hiệp, Côn Đảo. Tại Khám Chí Hòa (phòng giam OB4), các cựu nữ tù chính trị đã dùng quạt giấy "đánh morse" báo tin Bác mất qua các ô cửa giam đối diện để cùng nhau tổ chức lễ truy điệu. Các tử tù tại Côn Đảo đã xé những tấm bìa các-tông, dùng lá cây chà lên tạo nền vẽ cờ Tổ quốc để làm bàn thờ Bác. Trong các trại giam, tù chính trị kiên quyết tuyệt thực, đấu tranh trực diện với quân cảnh để bảo vệ những miếng băng tang tự chế trên áo, sẵn sàng chịu những trận đòn roi, tra tấn dã man quyết không chịu xả tang trước hạn.

Các mũi tiến công phối hợp: Để cảnh cáo chính quyền Sài Gòn, ngay trong tuần lễ tang Bác, lực lượng Biệt động thành đã tổ chức các trận đánh táo bạo vào hai cư xá quân sự Mỹ trên đường Chi Lăng và Nguyễn Minh Chiếu. Đặc biệt, biệt động thành đã nổ súng đánh sập trụ sở tòa soạn báo Chính Luận tại trung tâm quận 1 vì tờ báo này dám đăng tải các bài viết xuyên tạc, xúc phạm đến anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hệ quả đô thị hóa cưỡng bức

Sự kết hợp giữa chiến tranh khốc liệt ở nông thôn và dòng người di cư khổng lồ đã đẩy Sài Gòn vào một cuộc khủng hoảng đô thị hóa cưỡng bức chưa từng có trong lịch sử. Cuộc di cư năm 1954 - 1955 đã đưa hàng trăm nghìn người từ phía bắc vĩ tuyến 17 vào Nam, đẩy dân số Sài Gòn tăng vọt từ khoảng 500.000 người vào năm 1945 lên tới 2.000.000 người vào năm 1954.

Quá trình chuyển dịch cơ cấu dân số này được biểu diễn chi tiết qua bảng thống kê các lát cắt lịch sử tiêu biểu dưới đây:

Sự gia tăng dân số cơ học quá nhanh đã bóp nghẹt không gian sống của đô thị. Bên cạnh những công trình kiến trúc hiện đại, bề thế được xây dựng từ nguồn vốn viện trợ là sự mọc lên như nấm của các khu ổ chuột, nhà lợp tôn, vách ván tạm bợ lấn chiếm các khu sình lầy, kênh rạch tại Quận 4 (Khánh Hội) và vùng ven Chợ Lớn.

Khi quân đội Mỹ rút dần sau năm 1972, nền kinh tế Sài Gòn lập tức phải gánh chịu những triệu chứng cai nghiện viện trợ vô cùng thảm khốc. Tình trạng lạm phát tiếp tục leo thang ở mức phi mã, đạt tỷ lệ 36,8% vào năm 1970 và nhảy vọt lên tới 44,5% vào năm 1973.

Sự đổ vỡ kinh tế đã kéo theo những hệ lụy xã hội nặng nề: hàng vạn người lâm vào cảnh thất nghiệp, tệ nạn ma túy (với hơn 150.000 người nghiện heroin), nạn mại dâm bùng phát tại các khu vực quán bar dịch vụ quân đội, và khoảng 800.000 trẻ mồ côi lang thang cơ nhỡ trên các đường phố, tạo nên một bức tranh xã hội đầy rẫy những mâu thuẫn trực diện và bất ổn sâu sắc.

Con lai Việt - Mỹ

Số lượng trẻ em con lai (chủ yếu mang dòng máu Việt – Mỹ) tại miền Nam trước năm 1975 ước tính khoảng 21.000 đến 25.000 em. Do sự hiện diện của quân đội Mỹ và đồng minh tập trung cao độ tại đô thị lớn nhất, phần lớn nhóm dân số này sinh ra và sinh sống tại Sài Gòn cùng các vùng phụ cận.

Các số liệu thống kê và bối cảnh cụ thể:

- Tổng số lượng: Các tổ chức thời điểm đó và thống kê hậu chiến ước tính có hơn 25.000 con lai Việt - Mỹ trên toàn miền Nam. Riêng số lượng trẻ mồ côi hoặc bị bỏ rơi (có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn) tại các cô nhi viện ở Sài Gòn lên tới hàng ngàn em.
- Tình trạng xã hội: Phần lớn các em ra đời từ những cuộc hôn nhân không trọn vẹn hoặc mối tình ngắn ngủi giữa lính viễn chinh Mỹ, nhân viên cơ quan quốc tế và phụ nữ bản xứ. Rất nhiều người trong số họ phải chịu sự kỳ thị, thiệt thòi lớn khi lớn lên mà không có sự thừa nhận của người cha.
- Chương trình di tản cuối chiến tranh: Trước và trong sự kiện tháng 4/1975, hàng ngàn trẻ lai mồ côi đã được đưa rời khỏi Sài Gòn sang các nước phương Tây qua chiến dịch Không vận Trẻ em (Operation Babylift).
- Làn sóng hậu chiến: Từ năm 1982, chính phủ Mỹ đã thông qua Đạo luật Con lai (Amerasian Homecoming Act), mở ra cơ hội định cư tại Mỹ cho hàng ngàn con lai và thân nhân, giúp thay đổi đáng kể số phận của cộng đồng này.

5. Hiệp định Paris năm 1973 và sự đón nhận của các tầng lớp xã hội Sài Gòn

Saigon 1973

Bối cảnh lịch sử và đòn quyết định buộc Mỹ ký Hiệp định Paris

Việc ký kết Hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 không phải là một sự dàn xếp tự nguyện từ phía Mỹ, mà là kết quả tất yếu của sự phá sản hoàn toàn về mặt quân sự, chính trị và ngoại giao của Washington sau nhiều năm can thiệp sâu sắc tại chiến trường Việt Nam.

Các nhân tố quyết định buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris

Quân sự chiến trường:

Sự thất bại của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", các thất bại trong tập kích bằng B-52, cùng thắng lợi vang dội của trận "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972 đã làm suy yếu vị thế quân sự của Mỹ.

Chính trị nội bộ nước Mỹ:

Phong trào phản chiến lan rộng tại Mỹ, áp lực từ tình trạng lạm phát tài chính, cùng sự trỗi dậy của "lương tâm nước Mỹ" đã tạo nên làn sóng phản đối dữ dội từ chính người dân và dư luận Hoa Kỳ.

Đấu tranh ngoại giao:

Việt Nam đã vận dụng thành công nghệ thuật "vừa đánh vừa đàm", kết hợp với việc giữ vững lập trường kiên định về ba lực lượng chính trị, tạo nên sức mạnh ngoại giao to lớn buộc đối phương phải nhượng bộ.

Sự sụp đổ của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh": Dù được trang bị lượng khí tài khổng lồ, Quân lực Việt Nam Cộng hòa liên tiếp gánh chịu những thất bại nặng nề trong các chiến dịch lớn, chứng minh quân đội Sài Gòn không thể tự đứng vững nếu thiếu sự bảo trợ trực tiếp của bộ binh Mỹ.

Làn sóng phản chiến rầm rộ ngay trong lòng nước Mỹ: Cuộc chiến kéo dài đã gây nên cuộc khủng hoảng kinh tế, lạm phát phi mã và sự rạn nứt sâu sắc trong xã hội Hoa Kỳ. Phong trào phản đối quân dịch, đòi rút quân của nhân dân Mỹ (đánh từ trong đánh ra) kết hợp với sự cô lập ngoại giao từ các quốc gia yêu chuộng hòa bình trên thế giới (đánh từ ngoài vào) đã tạo nên gọng kìm chính trị nghẹt thở ép chặt chính quyền Richard Nixon.

Đòn quyết định "Điện Biên Phủ trên không" (Tháng 12/1972): Nhằm cứu vãn thế yếu trên bàn đàm phán và ép buộc Hà Nội ký kết các điều khoản có lợi, chính quyền Nixon đã đơn phương lật lọng, tung quân bài chiến lược cuối cùng: mở chiến dịch Linebacker II, dùng siêu pháo đài bay B-52 ném bom rải thảm hủy diệt Hà Nội và Hải Phòng suốt 12 ngày đêm.

Tuy nhiên, cuộc tập kích tàn bạo đã bị lực lượng phòng không - không quân và nhân dân miền Bắc đập tan kiêu hùng. Thất bại thảm hại của không quân chiến lược Mỹ (bị bắn rơi 34 siêu máy bay B-52) đã đập tan ảo tưởng đàm phán trên thế mạnh của Mỹ.

Đòn trừng phạt sấm sét này đã buộc Mỹ phải xuống thang, quay trở lại Paris chấp nhận đặt bút ký vào bản hiệp định ngừng bắn không điều kiện.

Nghệ thuật ngoại giao "vừa đánh vừa đàm": Phái đoàn ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (dưới sự cố vấn của ông Lê Đức Thọ) và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (do bà Nguyễn Thị Bình làm trưởng đoàn) đã duy trì một lập trường đàm phán kiên cường, mềm dẻo nhưng bất di bất dịch: quân đội Mỹ phải rút hoàn toàn nhưng quân đội nhân dân Việt Nam đóng nguyên tại chỗ.

Phi công Mỹ trang trí cây thông trong nhà tù Hỏa Lò

Sự đón nhận của các tầng lớp xã hội Sài Gòn

Hiệp định Paris được ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973 lập tức tạo ra những phản ứng xã hội vô cùng sâu sắc và khác biệt trong lòng đô thành Sài Gòn.

Các tầng lớp nhân dân lao động, học sinh, sinh viên: Hiệp định Paris được đón nhận với một niềm vui sướng vỡ òa và niềm hy vọng mãnh liệt về một tương lai hòa bình, hòa hợp dân tộc. Sau hàng thập kỷ sống dưới bóng tối của bom đạn, lệnh động viên quân dịch cưỡng bách và thảm cảnh chia lìa gia đình, người dân khao khát đất nước được ngưng tiếng súng, việc đi lại giữa hai vùng kiểm soát được tự do để họ có cơ hội sum họp, khôi phục lại cuộc sống bình thường. Các phong trào đấu tranh công khai đòi thi hành nghiêm chỉnh hiệp định, đòi hòa giải dân tộc liên tục nổ ra rầm rộ trên khắp các đường phố.

Chính quyền quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu: Đối mặt với Hiệp định Paris, nội bộ chính quyền và quân đội Sài Gòn rơi vào trạng thái hoang mang, dao động cực độ. Nguyễn Văn Thiệu và giới chóp bu quân sự xem bản hiệp định là một sự phản bội trắng trợn của đồng minh Mỹ khi Washington chấp nhận rút quân nhưng để lại toàn bộ lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Nam. Để cứu vãn tình thế, chính quyền Thiệu lập tức ban hành các công điện khẩn, chỉ đạo lực lượng cảnh sát và nhân dân tự vệ triệt để triệt hạ hoặc xóa bỏ mọi biểu tượng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, thay thế bằng cờ quốc gia trên khắp các ngõ phố nhằm ngăn chặn tầm ảnh hưởng của cách mạng. Quân đội Sài Gòn liên tục vi phạm hiệp định, tiến hành hàng loạt cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng ngay sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực.

Tuy nhiên, đòn chí mạng của Hiệp định Paris đối với chế độ Sài Gòn lại nằm ở mặt tài chính. Việc rút lui hoàn toàn của hơn 1 triệu quân đội Mỹ và đồng minh kéo theo sự cắt giảm đột ngột các nguồn viện trợ. Nền kinh tế tiêu dùng sầm uất dựa trên dòng đô-la quân sự lập tức lâm vào suy thoái nặng nề, giá cả nhu yếu phẩm (đặc biệt là gạo) tăng vọt, đẩy hàng vạn gia đình ăn theo dịch vụ quân đội Mỹ vào cảnh nghèo đói và tuyệt vọng, làm lung lay tận gốc rễ sự tồn tại của chế độ.

6. Diễn biến lịch sử ngày 30 tháng 4 năm 1975

Saigon 1973

Chiến dịch Hồ Chí Minh

Thất bại thảm hại của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong việc giữ Phước Long đầu năm 1975, tiếp đó là sự sụp đổ dây chuyền của hệ thống phòng ngự tại Tây Nguyên và dải duyên hải miền Trung trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng đã đẩy chính quyền Sài Gòn vào tình thế tuyệt vọng. Nhận thấy thời cơ chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam đã chín muồi, ngày 14 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định, chính thức mang tên "Chiến dịch Hồ Chí Minh".

Để chuẩn bị cho đòn quyết định này, lực lượng cách mạng đã huy động một quy mô quân sự khổng lồ, tổ chức thành năm cánh quân lớn đồng loạt thọc sâu từ năm hướng vào nội đô Sài Gòn

Đối phó với sức mạnh bão táp của quân giải phóng, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn của phía Sài Gòn đã thiết lập 5 tuyến phòng ngự vành đai ngoài ô nhằm cố thủ sào huyệt cuối cùng.

Các tuyến phòng thủ này được bố trí dày đặc các sư đoàn bộ binh, thiết giáp và lính dù tại các cửa ngõ chiến lược bao gồm Củ Chi ở phía tây bắc, Bình Dương ở phía bắc, Biên Hòa ở phía đông bắc, Xuân Lộc ở phía đông và Long An ở phía nam.

Tuy nhiên, trước sức tiến công áp đảo và đồng loạt của các binh đoàn thọc sâu, toàn bộ hệ thống phòng ngự ngoài ô này nhanh chóng bị chia cắt và nghiền nát chỉ trong vòng vài ngày.

Lược đồ Chiến dịch Hồ Chí Minh

Thời khắc cáo chung của chế độ Việt Nam Cộng Hòa

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 ghi dấu thời khắc lịch sử vĩ đại của dân tộc khi các cánh quân giải phóng đồng loạt tổng công kích vào nội đô, kết thúc hoàn toàn cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm kể từ sau ngày Độc lập 2/9/1945.

🚁 Sáng sớm: Đại sứ Mỹ Graham Martin vội vã lên trực thăng di tản khỏi Sài Gòn, đánh dấu sự chấm dứt hoàn toàn sự can thiệp của Hoa Kỳ.


Bức ảnh nổi tiếng: Cảnh di tản bằng trực thăng trên nóc tòa nhà số 22 Gia Long (nay là đường Lý Tự Trọng, TP.HCM) chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975. Tác giả là nhiếp ảnh gia người Hà Lan Hubert van Es, làm việc cho hãng tin UPI.

9 giờ: Sư đoàn 341 đánh chiếm căn cứ Hốc Bà Thức rồi nhanh chóng phát triển sang Thủ Đức. Ở hướng bắc, Trung đoàn 165 thuộc Sư đoàn 312 phối hợp với bộ đội địa phương đánh chiếm căn cứ Phú Lợi, trong khi Trung đoàn 209 chiếm Sở chỉ huy Sư đoàn 18 đối phương rồi tiến vào nội đô.

9 giờ 45 phút: Tại hướng tây bắc, Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) phối hợp với xe tăng chia làm hai mũi đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. Mũi thứ nhất do Đại đội 5 dẫn đầu vượt qua cổng số 5 đánh chiếm khu truyền tin và Bộ Tư lệnh Sư đoàn Không quân 5. Mũi thứ hai do Tiểu đoàn 4 và 6 tiến công cổng số 4, làm chủ Bộ Tư lệnh Dù và Bộ Tư lệnh Không quân. Lực lượng Tiểu đoàn 6 nhanh chóng phát triển tới bảo vệ trại Davis - nơi đặt trụ sở hai phái đoàn quân sự của ta trong Ủy ban liên hợp bốn bên. Đến 11 giờ 30 phút, sân bay Tân Sơn Nhất hoàn toàn bị vô hiệu hóa và cờ giải phóng được kéo lên tung bay trên bầu trời sân bay.

10 giờ 30 phút: Ở hướng tây nam, các đơn vị thuộc Binh đoàn 232 tiêu diệt chi khu Bà Hom, làm chủ trường đua Phú Thọ và phát triển lực lượng tiến về hợp điểm tại Dinh Độc Lập.

11 giờ: Mũi thọc sâu cơ động của Quân đoàn 2, với Lữ đoàn xe tăng 203 dẫn đầu, vượt qua sự chống trả cuối cùng của địch tại cầu Thị Nghè, hành quân dọc theo tường rào Thảo Cầm Viên hướng thẳng về phía Dinh Độc Lập.

11 giờ 30 phút: Chiếc xe tăng mang số hiệu 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy húc vào cổng phụ của dinh và bị kẹt lại. Ngay phía sau, chiếc xe tăng mang số hiệu 390 do Vũ Đăng Toàn chỉ huy vượt lên húc đổ hoàn toàn cánh cổng chính bằng sắt, dũng mãnh tiến vào thảm cỏ trước Dinh Độc Lập. Đại úy Bùi Quang Thận chạy lên sân thượng tòa nhà, hạ lá cờ sọc của chế độ cũ và kéo lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng lên đỉnh cột, đánh dấu giờ phút cáo chung của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.


Khoảnh khắc chiếc xe tăng mang số hiệu 390 húc đổ hoàn toàn cánh cổng chính bằng sắt, dũng mãnh tiến vào thảm cỏ trước Dinh Độc Lập.

🏫 Tại sảnh Dinh Độc Lập: Các chiến sĩ thọc sâu của Quân đoàn 2 chạy vào sảnh chính tòa nhà. Tại đây, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá của Tổng thống Dương Văn Minh, đã đứng đợi và giới thiệu toàn bộ nội các đang có mặt. Khi Dương Văn Minh lên tiếng đề nghị bàn giao chính quyền, Đại úy Phạm Xuân Thệ (Trung đoàn phó Trung đoàn 66) và trợ lý tác chiến Nguyễn Khắc Nhu đã đanh thép tuyên bố: "Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không bàn giao gì cả".

Do không có phương tiện liên lạc với cấp trên, Phạm Xuân Thệ quyết định trực tiếp áp giải Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu ra Đài Phát thanh Sài Gòn để đọc lời tuyên bố đầu hàng nhằm tránh thêm xương máu cho binh sĩ hai bên.

📢 Trưa ngày 30 tháng 4: Tại Đài Phát thanh, sau khi văn kiện đầu hàng do chính ủy Bùi Văn Tùng soạn thảo hoàn thành, Dương Văn Minh đã đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trên sóng phát thanh.


Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc lịch sử trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đọc bản tuyên bố đầu hàng vô điều kiện tại Đài phát thanh Sài Gòn. Người đàn ông mặc thường phục ngồi bên trái Tổng thống Minh là nhà báo Tây Đức Börries Gallasch, chứng nhân phương Tây duy nhất có mặt tại khoảnh khắc này. Xung quanh là các chiến sĩ quân Giải phóng. Bức ảnh này được chụp bởi phóng viên Phạm Kỳ thuộc Hãng thông tấn AP thường trú tại Sài Gòn.

Chính ủy Bùi Văn Tùng thay mặt quân Giải phóng đọc lời tiếp nhận đầu hàng. Cuộc chiến tranh giải phóng Sài Gòn - Gia Định chính thức toàn thắng.

7. Kết luận

Hành trình 50 năm nhìn lại lịch sử của Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là sự chiêm nghiệm về những mốc thời gian, mà còn là sự tôn vinh bền bỉ dành cho khí chất và bản lĩnh của con người Sài Gòn - Gia Định. Qua những trang sử hào hùng từ giai đoạn 1945 đến ngày Đại thắng Mùa Xuân năm 1975, chúng ta thấy rõ một chân dung thành phố không bao giờ khuất phục trước nghịch cảnh.

Tinh thần của người dân nơi đây là sự hòa quyện giữa lòng yêu nước nồng nàn và sự sáng tạo không giới hạn trong gian khó. Đó là ý chí "độc lập hay là chết" của những ngày đầu kháng chiến năm 1945, là sự kiên cường của giới trí thức, tôn giáo khi đứng về phía dân tộc, và là sự nhạy bén của người dân khi thực hiện phong trào "xài tiền Cụ Hồ" để bảo vệ nền tài chính cách mạng. Dù đối mặt với sự đàn áp tàn bạo của thực dân hay sự can thiệp của đế quốc, tinh thần ấy vẫn luôn rực cháy, biến đô thị thành một mặt trận bất hợp tác, tạo nên sức mạnh tổng hợp từ quân sự, chính trị cho đến văn hóa và kinh tế.

Nhìn lại tiến trình lịch sử này, ta thấy một sự chuyển mình mạnh mẽ và thống nhất trong mục tiêu. Từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp đầy cam go, qua những cuộc biểu tình lịch sử của học sinh, sinh viên như phong trào Trần Văn Ơn, đến sự nhạy bén trên bàn đàm phán quốc tế tại Giơ-ne-vơ, Sài Gòn - Gia Định luôn giữ vững vai trò là đầu tàu, là biểu tượng của tinh thần đấu tranh vì độc lập, thống nhất. Giai đoạn này chính là khúc dạo đầu, là nền tảng vững chắc để sau này thành phố mang tên Bác tiếp tục viết nên những trang sử vẻ vang trong công cuộc xây dựng và phát triển.

Những bài học lịch sử rút ra từ giai đoạn này vô cùng sâu sắc và vẫn còn nguyên giá trị:

Thứ nhất, bài học về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự thành công của cách mạng không chỉ đến từ các quân đoàn chủ lực mà còn từ sự đồng lòng của mọi tầng lớp nhân dân – từ trí thức, nhà tu hành đến người lao động bình dân. Sự kết hợp giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng chính là chìa khóa tạo nên sức mạnh vô địch.

Thứ hai, bài học về sự chủ động và linh hoạt. Trong điều kiện bị bao vây, chia cắt, việc sáng tạo ra các phương thức đấu tranh trên mọi mặt trận (kinh tế, văn hóa, tài chính) đã giúp cách mạng tồn tại và phát triển. Đây là minh chứng cho trí tuệ Việt Nam: luôn tìm thấy cơ hội trong thách thức.

Cuối cùng, thế hệ hôm nay cần hiểu rằng, di sản của quá khứ không phải để nằm lại trong những trang sách cũ, mà là động lực để kiến tạo tương lai. Sứ mệnh của chúng ta là tiếp nối tinh thần dấn thân, sự sáng tạo và lòng tự hào dân tộc đó để xây dựng thành phố ngày càng văn minh, hiện đại, xứng đáng với niềm tin và sự hy sinh của cha ông đi trước.